Tạp chí công nghệ Việt Nam

Tìm hiểu cách chọn gà nòi dựa vào mắt và cần cổ

0

Mắt gà

Mắt gà: Giác quan bất lộ.

Con mắt là nơi biểu lộ tính khí của con gà nhiều nhất. Con gà gan lì, hung hăng và tài ba, cũng đều nhận thấy từ qua con mắt của chúng.

Tiền khỏi nhìn con mắt phải sâu, không sâu hoắm khiến con gà chậm chạp. Mắt bằng ngang, không sâu chẳng lồi, gà ấy có bản tính hiền lành, nhát đòn. Nếu mắt lồi, không tốt, dễ đuối, nhát. Mắt gà tốt thưòng có viền đen chung quanh mí, tròng và con ngươi phải tròn như hạt trai. Con ngươi đen, thật tròn, nhỏ mới linh động, thế mới đúng vởi câu “Giác tâm nhị tiểu” của Lê Văn Duyệt. Trong mắt có nhiều màu sắc khác nhau.

1. Những màu mắt nên chơi.

– Trắng dã: Tính khí lì iỢm, gan dạ, đòn độc.
– Trắng ngà: Cũng tốt nhưng kém hơn màu trắng dã.
– Bac: Lanh lẹ, linh động.
– Vàng thau: Hung hăng, dỡ tợn, lì lợm.
– Vàng đất đếm đen: Gọi là mắt rắn hổ, nếu mí mắt bằng ngang, gọi chung là “mắt ếch” (mí mắt không cong theo vòng tròn của mắt).
– Mắt ếch: Màu nâu có đốm đen hoăc nâu huyền, gà lì lợm.
– Mắt sao: Tựa như mắt bạc và xám
– Mắt hạt cau: Mắt trắng, hoặc đỏ hay xám hoặc vàng, có tủa ra chỉ hồng, dữ dằn.
– Mắt lửa: Mắt màu đỏ tía như lửa, gan dạ, hung hàng.
– Mắt xanh: Có màu xanh nhạt, nhìn xa tựa như mắt trắng, gà có tài.


2. Những màu mắt không nên chơi.

– Mắt đen thui: Còn gọi là “mắt cá lóc”, nhút nhát, dễ chạy bậy.
– Mắt đỏ nhạt: Nếu hơi lồi thì gọi là “mắt ốc cao”, biểu lộ sự tài.
– Mắt vàng: Yếu.
– Mắt xám: Thưòng.

* Nếu là loại nhạn, chuối, ô bông, bông nhạn, bướm, xám gạch, ngũ sắc, xám tro, mà có những màu mắt kể trên thì khôn, xứng tưống.

* Nếu gà có đôi chân trắng (những màu mắt kể trên) sẽ không tốt. Ngoại trừ mắt hạt cau, dùng được.

Nếu là loại: Điều, ó, ô, xám, khét, ngũ sắc, ô điều, và có những màu sắc trên chơi mói quý.

– Cặp mắt trắng, đôi chân trắng, cái mỏ trắng hoặc đà, nếu là: 0, ô điều, điều, xám, đều là gà tốt.
– Gà có chân xanh mắt bạc, vàng thau, tốt.
– Gà ô chân xanh hoặc đen, nên có những mắt trắng hoặc những màu nên chơi.
(Chung quy chỉ nên dùng những màu mắt kể trên).

Nếu gà có mỗi mắt một màu khác nhau, gà này tuy khá nhưng không nên chơi. Vì nó kém bền, không đúng cách, thuận một bên, dễ mù.

Còn gà có hai màu, nhợt nhạt ở một bên mắt, gà ấy yếu, bở sức, đòn thường.

Loại gà có mắt “đổi màu” theo cảnh vật xung quanh, gà này có tài, nhưng nhát gan (lúc màu này lúc màu nọ).

– Độc long là gà từ trứng sinh ra chỉ có một mắt (quí tưống) thuộc loại gà hay.
– Bổ túc cho mắt, mí mắt phải mỏng, để mở ra khép lại dễ dàng, dễ cảm kích hơn

Tham khảo giá thiết kế menu

 

Cần cổ gà

 

Cổ gà nòi thường dài, nhưng nếu dài quá thì lại yếu, cần cổ sẽ không lấn được lúc giao chiến, cần cổ được kể từ dưới lỗ tai trở xuống đến gáy, chạm lưng, nếu gà cần cổ quá nhỏ, rất bất tiện, gà ấy yếu, khó trả đòn mãnh hệt. “Gà cựa” cũng như “gà đòn”, cổ to là tốt, nhưng thường “gà cựa” cổ bé nhỏ hơn “gà đòn”.

Cổ có nhiều hình thù khác nhau: cổ tròn, cổ dẹt, cổ liền, cổ ròi, cổ cò và cổ kên – kên.

CỔ tròn thì tốt, cổ dẹt xấu.

Cổ liển thì tốt, eo rời xấu.

Cổ kên – kên tốt, cổ eò xấu.
Cần cổ tròn và liền: Hay tạt, hay quăng, đá trên. Cần cổ dẹt và ngắn: Hay đá dưới, đá luồn.

cần cổ dẹt và dài hoặc tròn mà lỏng rời: Là cổ xấu.

+ Cổ tròn: Đứng nhìn gà, ta thấy cần cổ tròn như một Ống tre.

+ Cổ dẹp: Cần gà sẽ chia làm đôi một cách rõ rệt, một nửa dành cho xương cần, một nửa dành cho cuống họng, cổ không được no tròn.

+ Cổ liền: Cổ liền thưòng tròn, đưa tay bóp xương cần, không thấy nhưng mắt cần ráp lại, tựa như mắt tre vậy.

+ Cổ đôi: Cần cổ gà cừng, tròn to từ trên xuống quá khỏi gáy, không phải cổ đôi, thưòng ở gáy có miếng da mỏng kéo từ cổ xuống lưng.

+ Cổ rời: Trái ngược với cổ liền, ta sẽ thấy từng mắt nổi lên rõ ràng khi đưa tay nắn cần cổ.

+ Cổ cò: Gà cổ rất dài thẳng tắp hoặc quá cong sau gáy, và trưốc ngực.

+ Cổ kên-kên: Là cổ ngắn, tròn, cong trên gáy, trước ngực, cổ không lồi ra, cổ to và liền.


Lấy tay đẩy cổ gà qua lại, lên xuống, trong khi tay kia giữ thân gà, cốt xem cần có cứng không, yếu là dở.

– Cổ ngắn là đứng cách nên dùng.
– Cổ tròn và dài là gà đi trên, đánh từ cần cổ địch thủ trỏ lên.
– Cổ dẹt và ngắn là gà chạy dưới, đá chuyên hầu, vai, dùi, ngực.
– Cổ gà vừa đòn vừa cựa thường to mà dẹt, như vậy vẫn có khi đủng được.

Nếu thấy cổ gà có một vảy đóng sau tai, tựa như vảy dưới chân, có khi lông cổ che mất, xem rõ mới biết, rất tốt, gà này được mệnh danh là ‘linh kê”, rất quý.

– Cần cổ tròn và liền: Hay tạt hay quăng, đá trên.
– Cần cổ dẹt và ngắn: Hay đá dưới, đá luồn.
– Cần cổ dẹt và dài hoặc tròn mà lỏng ròi, cổ xấu.

Tham khảo thiết kê phong bì thư

Leave A Reply

Your email address will not be published.